Lạm phát của Việt Nam trong 10 năm gần nhất

Tình trạng lạm phát những năm gần đây

Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2015, nhờ vào việc phối hợp tốt những chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ và linh hoạt đã giúp cho nước ta thực hiện tốt nhiệm vụ kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, vẫn không thể tránh khỏi các biến động kinh tế, khó có thể lường trước khi vẫn còn nhiều những nguy cơ tiềm ẩn cho việc điều hành kinh tế vĩ mô.

Lạm phát là gì?

Lạm phát giai đoạn 2010 - 4/2016
Lạm phát giai đoạn 2010 – 4/2016

Lạm phát chính là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung trong nền kinh tế, hay là sự mất đi giá trị thị trường, giảm sức mua của đồng tiền. Lạm phát ảnh hưởng đến đến mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội, đặc biệt khi lạm phát cao hay siêu lạm phát không dự đoán được sẽ gây ra tác hại nghiêm trọng đối với kinh tế, từ đó cơ cấu nền kinh tế mất cân đối dẫn đến hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào khủng hoảng, nguồn thu ngân sách nhà nước giảm, sản xuất bị suy thoái, do vậy nhà nước cần có những biện pháp để kiềm chế tình trạng lạm phát.

 

Thực tế, có nhiều thước đo biến động giá cả của các quốc gia hay đo lường chỉ số lạm phát như: chỉ số giá sản xuất (PPI), chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giảm phát GDP nhưng để đo lường mức lạm phát  và được nhiều người quan tâm nhất thì chỉ có chỉ số CPI, đây được coi là thước đo phổ biến nhất vì biến động của CPI phản ánh biến động trong mức sống của người dân. Vì vậy, khi nền kinh tế có lạm phát đồng nghĩa với việc gia tăng kéo dài và liên tục của CPI.

 

Tình trạng lạm phát những năm gần đây

Tình trạng lạm phát những năm gần đây
Tình trạng lạm phát những năm gần đây

Trong giai đoạn 2011 – 2015, NHNN Việt Nam đã chủ động, linh hoạt với các công cụ chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa được phối hợp chặt chẽ với nhau góp phần quan trọng trong việc kiểm soát, đưa lạm phát ở mức cao xuống thấp hơn từ 23% của 8/2011 đến 6,81% ( 2012), 1,84% (2014 ) còn 0,6% (2015).

 

Trên cơ sở đánh giá dự báo kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ  ( 2016- 2020), các chỉ tiêu định hướng về tiền tệ và tín dụng được NHNN đặt ra cũng thấp hơn giai đoạn 2011 – 2015 nhưng vẫn đảm bảo và cân đối, duy trì sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô và phù hợp với sức hấp thụ nền kinh tế. Đồng thời cũng thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm kiểm soát lượng tiền cung ứng qua các kênh và góp phần kiểm soát tối đa lạm phát.

 

Trong hơn 10 năm qua, giai đoạn 2011-2015 cũng là giai đoạn đánh dấu thời kỳ giữ lạm phát ở mức ổn định và thấp nhất. Để nâng hệ số tín nhiệm của Việt Nam khi được các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế phải dựa vào các yếu tố sau: lạm phát ổn định ở mức thấp, kinh tế vĩ mô ổn định được giữ vững, ngoại hối và tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại hối tăng lên cao, thanh khoản được cải thiện vững chắc.

 

Nửa cuối 2010, thanh khoản của hệ thống TCTD bị thiếu hụt nghiêm trọng, có thời điểm lãi suất liên ngân hàng tăng cao lên đến 30%/ năm dẫn đến nguy cơ đổ vỡ hệ thống hiện hữu, tình trạng các ngân hàng hạn chế cho vay lẫn nhau.

 

Đứng trước tình hình đó, bên cạnh việc thực hiện nhiều giải pháp ưu tiên về kiềm chế lạm phát, thanh khoản cho thị trường và giảm thiểu nguy cơ đổ vỡ hệ thống đã linh hoạt điều chỉnh nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn kịp thời cho hệ thống TCTD, hỗ trợ thanh khoản và đảm bảo an toàn hệ thống.

 

Với việc điều hành đó, những năm gần đây thanh khoản hệ thống đã từng bước được cải thiện nên nhu cầu vay vốn không cao, không tạo ra sức ép tăng lãi suất liên ngân hàng. Lãi suất ngân hàng giảm mạnh, dao động 2 -5%/ năm, tỉ lệ tín dụng cũng từ đó giảm theo từ  hơn 100% (2011) còn 90% hiện nay.

 

CPI 3/ 2016 đã tăng 0,57% so với tháng trước và so với cùng kỳ đã tăng 1,69%, cuối năm trước là 0,99%. Diễn biến tăng lạm phát tháng 3 xuất phát từ những yếu tố đột biến:

 

  • Gía dịch vụ y tế tăng từ 1/3/2016 theo đó các mặt hàng dịch vụ y tế đáp ứng cho những đối tượng bảo hiểm cũng tăng 32,9%, CPI tăng 1,27%.
  • Tăng học phí theo Nghị định của Chính phủ, một số tỉnh đã tăng làm cho giá nhóm giáo dục cũng tăng 0,66%
  • Nguồn cung lương thực giảm mạnh do hạn hán, ngập mặn đã tác động làm tăng giá lương thực 0,23%.

 

Ngoài ra, các nhóm hàng đều giảm hoặc tăng lạm phát do quy luật giảm giá sau nghỉ tết nguyên đán. Lạm phát cơ bản so với tháng trước đã giảm 0,09% và so với cùng kỳ 2015 đã tăng 1,64%, thấp hơn 2/2016 mức tăng 1.72%. Dự tính năm 2016 tình trạng lạm phát có khả năng tăng mạnh, điều này do Nhà nước tăng giá cao về các dịch vụ giáo dục, y tế.

 

Điều đáng chú ý nếu lạm phát giảm thấp vào 2015 do giá lương thực và xăng dầu giảm mạnh thì giá của hai loại này sẽ bắt đầu tăng tạo thêm áp lực về lạm phát vào năm 2016. Vậy nếu áp lực tăng trưởng kinh tế và yếu tố tiền tệ lạm phát ổn định thì tỷ lệ lạm phát cuối năm có khả năng đến 5% do đó chính sách tiền tệ phải được thận trọng không tạo thêm áp lực gia tăng lạm phát. Nếu lạm phát cơ bản dao động ổn định khoảng 2% thì đây là con số tương đối ổn định, các mặt hàng được điều chỉnh phù hợp.

 

Trong điều kiện tăng trưởng chậm lại, sức ép lạm phát có xu hướng tăng nhưng xuất phát từ các nhân tố bên nguồn cung thì cần lưu ý:  xem xét thời điểm hợp lý để tránh tăng lạm phát rồi điều chỉnh các mặt hàng do nhà nước quản lý, huy động vốn trái phiếu chính phủ cho ngân sách có lãi suất hợp lý, chính sách tài khóa hiệu quả, tránh sức ép làm tăng lãi suất của TCTD.

Tham khảo bài viết: Phú Quốc với bước chuyển mình để trở thành đặc khu kinh tế


Thông tin liên hệ:

TẬP ĐOÀN SUNGROUP

Email: Sungroup.customer@gmail.com

Văn phòng Hà Nội : Tầng 4 Tòa nhà Sun City 13 Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Văn phòng TP HCM: Tầng 19 Tòa nhà Vincom Đồng Khởi, Quận 1, TPHCM

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *